|
Dưới đây là những điểm mới về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) lần này:
1- Việc công chứng, chứng thực hợp đồng khi giao dịch về quyền sử dụng đất
Luật Đất đai năm 2003 quy định khi thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất như chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn, thừa kế phải lập thành hợp đồng có công chứng hoặc chứng thực.
Riêng các thủ tục khác như cho thuê quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp, cho mượn, cho ở nhờ, cho thuê nhà ở, ủy quyền quản lý nhà ở thì không phải công chứng hoặc chứng thực (theo Nghị quyết số 25/NQ-CP do Chính phủ ban hành năm 2010).
Dự thảo Luật lần này quy định vấn đề nêu trên bằng 01 trong 02 phương án:
Phương án 1. Tiếp tục thực hiện như chính sách trước đây.
Phương án 2. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo nhu cầu của các bên.
2- Không giới hạn mục đích thế chấp quyền sử dụng đất
Luật Đất đai năm 2003 quy định việc thế chấp quyền sử dụng đất chỉ thực hiện để vay vốn sản xuất, kinh doanh.
Dự thảo Luật không giới hạn mục đích thế chấp bằng quyền sử dụng đất.
3- Luật hóa các trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ.
Theo đó, các trường hợp sau đây không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất:
- Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.
- Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.
- Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng; trong khu vực rừng phòng hộ nếu không sinh sống trong khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đó.
4- Luật hóa các trường hợp chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện từ Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ
Theo đó, các trường hợp sau đây được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất nhưng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống xen kẽ trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng nhưng chưa có điều kiện chuyển ra khỏi phân khu đó thì chỉ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất rừng kết hợp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong phân khu đó.
- Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ thì chỉ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó.
- Hộ gia đình, cá nhân đồng bào dân tộc thiểu số được giao đất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau 10 năm kể từ ngày được giao đất.
5- Luật hóa điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp từ Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ
Theo đó, tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:
- Có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án.
- Mục đích sử dụng đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt;
- Đối với đất trồng lúa thì phải có phương án sử dụng lớp đất mặt và bù bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa nước bị mất do chuyển mục đích sử dụng.
6- Luật hóa điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán hoặc cho thuê từ Nghị định 71/2010/NĐ-CP của Chính phủ
Theo đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán hoặc cho thuê được thực hiện như sau:
- Đối với các dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán tại đô thị và khu vực quy hoạch phát triển đô thị thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở chỉ được thực hiện khi hoàn thành việc xây dựng nhà ở;
- Đối với các dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở để bán hoặc cho thuê thì được chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời với việc chuyển nhượng toàn bộ dự án cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức kinh tế liên doanh khi đã hoàn thành việc đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ theo dự án đã được phê duyệt.
|